Sốt cao không hạ là bệnh gì năm 2024

Khi thân nhiệt của người bệnh tăng cao đột ngột từ 40°C trở lên được xem là sốt cao, khi đó người bệnh sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm, cần được cấp cứu và xử trí ngay lập tức.

2. Nguyên nhân gây sốt cao ở người lớn

Khi cơ thể bị sốt rất có thể đang nhiễm một loại virus hoặc vi khuẩn nào đó. Khi miễn dịch của cơ thể phát hiện ra những tác nhân lạ trong cơ thể, nó sẽ giải phóng ra các tín hiệu để huy động bạch cầu chiến đấu chống lại những tác nhân này. Từ đó làm thay đổi thân nhiệt cơ thể gây ra những cơn sốt. Về bản chất, sốt là một dấu hiệu tốt chứng tỏ cơ thể có những phản ứng đối với những tác nhân gây hại.

Sốt cao không hạ là bệnh gì năm 2024

Bên cạnh dùng thuốc, người bệnh cũng có thể chườm khăn để hạ sốt.

Các nguyên nhân gây sốt ở người lớn phổ biến là: Nhiễm virus (như cúm hoặc cảm lạnh); Nhiễm khuẩn; Nhiễm trùng nấm; Ngộ độc thực phẩm; Sốc nhiệt, say nắng; Viêm; Khối u; Có cục máu đông...

Một số người lớn có nguy cơ cao bị sốt nghiêm trọng, chẳng hạn như mắc phải một số bệnh mạn tính: Hen suyễn; Viêm khớp dạng thấp; Bệnh tiểu đường; Bệnh Crohn; Bệnh tim; Bệnh hồng cầu hình liềm; Bại não…

‎Sốt cao (khoảng từ 38 đến dưới 40 độ C) nếu xác định được đúng nguyên nhân thì phần lớn người bệnh sẽ đáp ứng tốt với thuốc hạ sốt và thuốc điều trị bệnh chính. Sốt cao (trên 40 độ C) lại thường là biểu hiện của những bệnh nhiễm trùng nặng chẳng hạn như nhiễm trùng huyết, sốt rét, sốt xuất huyết, viêm màng não hay tác dụng phụ của một số loại thuốc nhất định.

‎3. Sốt cao ở người lớn khi nào nguy hiểm?

Những dấu hiệu đi kèm với sốt cao cảnh báo tình trạng rất nguy hiểm:

  • Rối loạn chức năng tâm thần, mơ hồ nhầm lẫn, hôn mê.
  • Nhức đầu, cứng cổ, xuất hiện những đốm nhỏ màu đỏ hoặc màu tím trên da.
  • Cứng hàm, co thắt cơ, đau cổ, đổ mồ hôi.
  • Đau bụng,
  • Co giật.
  • Tụt huyết áp, nhịp tim nhanh, thở gấp.
  • Nhiệt độ cơ thể cao hơn 40 độ C hoặc thấp hơn 35 độ C.
  • Chán ăn, người mệt mỏi, xanh xao trong nhiều ngày.
  • Từng đến vùng có dịch bệnh: virus cúm, sốt xuất huyết...

Khi sốt cao kèm theo các dấu hiệu trên, người bệnh cần nhanh chóng tới các bệnh viện để được chăm sóc y tế tốt nhất.

4. Làm gì khi bị sốt cao ở người lớn?

Cách giảm đau hạ sốt nhanh cho người lớn:

Đối với trường hợp sốt < 39 độ C

- Cần mặc quần thoáng mát, bỏ bớt quần áo trên người, đặc biệt chú ý không đắp chăn dù có cảm thấy lạnh. Cần theo dõi thường xuyên sự thay đổi thân nhiệt.

- Chườm mát cho cơ thể: Lau cơ thể, đắp khăn hoặc tắm bằng nước ấm. Sử dụng 1 khăn nhúng nước ấm 40 – 50 độ C, vắt rồi lau thân mình cho bệnh nhân, chú ý những vị trí nách, bẹn… đến khi nước bốc hơi hết thì tiếp tục lặp lại đến khi thân nhiệt xuống. Theo dõi thân nhiệt liên tục, nếu sốt tăng trở lại thì tiếp tục chườm mát.

Nếu sốt từ 39 độ C trở lên:

- Cần phải uống thuốc hạ sốt paracetamol theo đúng liều lượng/ cân nặng, giữa hai lần uống thuốc phải cách tối thiểu 4 – 6 giờ.

- Với người bệnh bị nôn, có thể sử dụng viên thuốc đạn nhét vào hậu môn để hạ sốt.

- Chú ý uống nhiều nước. Có thể sử dụng Oresol để bù nước và điện giải theo hướng dẫn cụ thể trên bao bì.

- Nên ăn các loại thức ăn dễ tiêu, lỏng như cháo, súp,… Bổ sung các loại trái cây giàu vitamin C như cam, bưởi… giúp tăng sức đề kháng, tăng cường hệ miễn dịch chống lại các tác nhân gây bệnh.

- Bổ sung canxi thông qua khẩu phần ăn hằng ngày như cá, rau xanh, yến mạch…

- Tắm bằng nước ấm: Điều này không chỉ làm mát cơ thể mà còn giúp bạn cảm thấy sạch sẽ và thoải mái hơn.

- Chườm khăn mát lên trán.

Sốt cao không hạ là bệnh gì năm 2024

Uống nước để bù nước khi sốt cao.

5. Lời khuyên bác sĩ

- Không tự ý kết hợp nhiều loại thuốc hạ sốt nhằm giảm nhiệt độ nhanh vì có thể dẫn đến dùng thuốc quá liều và gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng.

- Không đắp chăn ấm, mặc nhiều áo khi bị sốt cao dễ khiến nhiệt độ cơ thể tăng cao và càng rét run. Mở cửa thoáng phòng.

- Không nên kết hợp cùng lúc nhiều cách hạ sốt: uống thuốc, ngâm người vào bồn nước ấm… có thể khiến nhiệt độ cơ thể giảm đột ngột, rất nguy hiểm.

- Không chườm lạnh sẽ làm co mạch khiến nhiệt không thể thoát ra ngoài qua lỗ chân lông.

Sau khi áp dụng các biện pháp hạ nhiệt hoặc bị sốt uống thuốc không hạ, người bệnh vẫn sốt cao, cần ngay lập tức đưa người bệnh đến bệnh viện để được thăm khám và điều trị kịp thời. Tuyệt đối không chủ quan, tự ý điều trị tại nhà vì có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm.

Sốt không rõ căn nguyên liên quan tới chăm sóc y tế: Sốt ở bệnh nhân nằm viện và không có biểu hiện nhiễm trùng hoặc ủ bệnh từ lúc nhập viện nếu chẩn đoán vẫn không chắc chắn sau 3 ngày với xét nghiệm thích hợp

  • Nhiễm trùng (25 đến 50%)
  • Rối loạn mô liên kết (10 đến 20%)
  • Khối u, ung thư (5 đến 35%)
  • Khác (15 đến 25%)

Nhiễm trùng là nguyên nhân phổ biến nhất của FUO. Ở những bệnh nhân nhiễm HIV, cần phải tìm kiếm các bệnh nhiễm trùng cơ hội (ví dụ như lao, nhiễm trùng do vi khuẩn Mycobacteria, các loại nấm lan toả, hoặc cytomegalovirus).

Các rối loạn mô liên kết phổ biến bao gồm lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, viêm động mạch tế bào khổng lồ, viêm đa khớp dạng thấp, viêm tuyến giáp, viêm mạch và viêm khớp dạng thấp thiếu niên ở người lớn (bệnh Still người lớn).

Các nguyên nhân gây ung thư phổ biến nhất là u lympho, ung thư máu dòng bạch cầu, ung thư biểu mô tế bào thận, ung thư biểu mô buồng trứng, u nhày nhĩ, bệnh Castleman, ung thư biểu mô tế bào và ung thư biểu mô di căn. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc các nguyên nhân gây ung thư của sốt chưa rõ nguyên nhân đã giảm, có thể bởi vì chúng đang được phát hiện bằng siêu âm và CT, hiện đang được sử dụng rộng rãi trong quá trình đánh giá sốt ban đầu.

Các nguyên nhân quan trọng khác bao gồm các phản ứng thuốc, huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi tái phát, bệnh sarcoidosis, viêm ruột, sốt giả tạo.

Khoảng 10% người lớn không xác định rõ căn nguyên.

Sốt cao không hạ là bệnh gì năm 2024

Trong những trường hợp khó hiểu như sốt không rõ nguyên nhân, giả định rằng tất cả thông tin đã được các bác sĩ lâm sàng thu thập hoặc được thu thập chính xác trước đây thường là một sai lầm. Các bác sĩ lâm sàng nên biết những gì bệnh nhân đã báo cáo trước đây (để giải quyết sự khác biệt) nhưng không nên chỉ đơn giản sao chép các chi tiết về tiền sử đã ghi lại trước đó (ví dụ như tiền sử gia đình, tiền sử xã hội). Những lỗi thiếu sót ban đầu đã được lặp lại qua nhiều bác sĩ lâm sàng trong nhiều ngày nhập viện, gây ra nhiều xét nghiệm không cần thiết. Ngay cả khi đánh giá ban đầu là kỹ lưỡng, bệnh nhân thường nhớ ra những chi tiết mới khi nhắc lại câu hỏi.

Ngược lại, bác sĩ lâm sàng không nên bỏ qua các kết quả kiểm tra trước và không nên lặp lại các xét nghiệm trừ khi nghi ngờ các kết quả có thể khác nhau (ví dụ, vì tình trạng của bệnh nhân đã thay đổi, bởi vì rối loạn tiến triển chậm).

Hỏi tiền sử giúp nhằm mục đích tìm ra các triệu chứng khu trú và sự kiện gợi ý nguyên nhân (ví dụ như đi du lịch, nghề nghiệp, lịch sử gia đình, tiếp xúc với động vật, tiền sử chế độ ăn uống).

Bệnh sử nên hỏi về thời gian và kiểu sốt (ví dụ, từ từ, dai dẳng). Kiểu sốt thường có ít hoặc không có triệu chứng đặc hiệu trong chẩn đoán FUO, mặc dù sốt cách nhật (tertian) hoặc mỗi 3 ngày (quartan) có thể gợi ý đến sốt rét ở bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ. Các điểm đau chỉ điểm vị trí khu trú (mặc dù không phải nguyên nhân) của rối loạn. Bác sỹ lâm sàng thường nên hỏi chung, sau đó đặc hiệu, về sự khó chịu trong từng phần của cơ thể.

Rà soát hệ thống nên bao gồm các triệu chứng không đặc hiệu, như giảm cân, chán ăn, mệt mỏi, đổ mồ hôi ban đêm và nhức đầu. Ngoài ra, cần tìm kiếm các triệu chứng của các rối loạn mô liên kết (như đau cơ, đau khớp, phát ban) và rối loạn tiêu hoá (ví dụ tiêu chảy, phân mỡ, khó chịu vùng bụng).

Tiền sử bênh nên bao gồm các rối loạn gây ra sốt, như ung thư, lao, rối loạn mô liên kết, xơ gan rượu, viêm ruột, sốt thấp khớp, và cường giáp. Các bác sĩ lâm sàng nên lưu ý các rối loạn hoặc các yếu tố có xu hướng gây nhiễm trùng, chẳng hạn như suy giảm miễn dịch (ví dụ do các rối loạn như nhiễm HIV, ung thư, tiểu đường, hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch), rối loạn tim mạch, rối loạn hệ tiết niệu, phẫu thuật và đặt thiết bị (ví dụ, đường truyền tĩnh mạch, máy tạo nhịp, khớp nhân tạo).

Tiền sử dùng thuốc nên bao gồm các câu hỏi về các loại thuốc đặc hiệu có thể gây sốt.

Tiền sử xã hội nên bao gồm các câu hỏi về các yếu tố nguy cơ lây nhiễm như tiêm chích ma tuý, quan hệ tình dục có nguy cơ cao (ví dụ như quan hệ tình dục không an toàn, nhiều bạn tình), tiếp xúc với người bệnh (ví dụ như bệnh lao), du lịch và tiếp xúc với động vật hoặc véc tơ côn trùng và ve. Tiền sử xã hội cũng nên bao gồm các câu hỏi về tiền sử bệnh tật trong các mối quan hệ xã hội (ví dụ, hàng xóm, đồng nghiệp, bạn đồng hành đi du lịch). Các yếu tố nguy cơ đối với ung thư, bao gồm hút thuốc, sử dụng rượu, và tiếp xúc nghề nghiệp với hóa chất, cũng cần được xác định.

Tiền sử gia đình nên bao gồm các câu hỏi về đặc điểm di truyền của sốt (ví dụ, sốt Địa Trung Hải gia đình).

Cần biết các xét nghiệm trước đó, đặc biệt nếu có giá trị trong theo dõi và kiểm soát các rối loạn nhất định.

Dấu hiệu chung, đặc biệt là suy mòn, vàng da và nhợt nhạt, được ghi nhận.

Khám da thông qua tìm ban đỏ khu trú (gợi ý chỗ nhiễm trùng) và phát ban (ví dụ: nổi ban đỏ của lupus ban đỏ hệ thống); kiểm tra nên bao gồm đáy chậu và bàn chân, đặc biệt ở bệnh nhân tiểu đường, những người dễ bị nhiễm bệnh ẩn ở những khu vực này. Các bác sỹ lâm sàng cũng nên kiểm tra các phát hiện lâm sàng của viêm nội tâm mạc bao gồm các triệu chứng dưới da của đau nhức tại các ngọn chi (các nút Osler), các mảng xuất huyết không sưng đau ở lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân (tổn thương Janeway), xuất huyết dưới móng.

Khám toàn bộ cơ thể (đặc biệt là trên xương sống, xương, khớp, bụng và tuyến giáp) tìm điểm đau, sưng tấy, hoặc to lên; khám trực tràng và khám khung chậu. Gõ thấy đau vùng răng (gợi ý áp xe). Trong quá trình khám, hạch vùng hoặc toàn thể phải được ghi nhân; ví dụ như, hạch vùng là dấu hiệu cho bệnh mèo cào khác với hạch lan toả trong u lympho.

Nghe tiếng thổi tại tim (gợi ý viêm nội tâm mạc do vi khuẩn) và tiếng chà xát (gợi ý bệnh viêm màng ngoài tim do rối loạn chức năng thấp khớp hoặc nhiễm trùng).

Đôi khi những điểm bất thường trong khám ở bệnh nhân FUO mơ hồ đến mức phải khám thực thể nhiều lần để nghĩ tới các nguyên nhân (ví dụ: phát hiện hạch mới, tiếng thổi tại tim, phát ban, hoặc nốt và mạch yếu trong động mạch thái dương).

Sau đây là mối quan tâm đặc biệt:

  • Suy giảm miễn dịch
  • Tiếng thổi tại tim
  • Sự có mặt các thiết bị nhân tạo (ví dụ, đường tĩnh mạch, máy tạo nhịp, khớp giả)
  • Đi du lịch gần đây đến các vùng lưu hành

Sau khi thăm khám và hỏi tiền sử:

  • Phát hiện các triệu chứng hoặc dấu hiệu không có mặt, không phát hiện hoặc không được ghi nhận trong những lần khám trước. Những phát hiện này được diễn giải và điều tra như đã chỉ ra ( xem Bảng: ).
  • Thông thường, các đánh giá chỉ phát hiện những phát hiện không bình thường xảy ra trong nhiều trường hợp khác nhau của FUO, nhưng nó xác định các yếu tố nguy cơ có thể giúp hướng dẫn xét nghiệm (ví dụ đi du lịch tới vùng lưu hành, tiếp xúc với các động vật, côn trùng hoặc véc tơ ve). Đôi khi các yếu tố nguy cơ ít cụ thể hơn nhưng có thể gợi ý một loại bệnh; ví dụ như giảm cân mà không chán ăn phù hợp hơn với bệnh nhiễm trùng hơn là ung thư, thường gây biếng ăn. Các nguyên nhân có thể cần được tìm kiếm thêm.
  • Trong trường hợp khó khăn nhất, bệnh nhân chỉ có những kết quả không đặc hiệu và không có hoặc nhiều yếu tố nguy cơ, nên tạo ra một cách tiếp cận hợp lý, tuần tự để đề xuất xét nghiệm cần thiết. Xét nghiệm ban đầu được sử dụng để thu hẹp các chẩn đoán có khả năng và hướng dẫn các thử nghiệm tiếp theo.

Cần xem xét các kết quả trước đó, đặc biệt là nuôi cấy. Nuôi cấy một số vi sinh vật cần có thời gian để dương tính và có thể cần phải có các kỹ thuật đặc biệt. Phòng thí nghiệm vi sinh cần được tư vấn về các điều kiện nuôi cấy (ví dụ: thời gian ủ, môi trường đặc biệt, nhiệt độ, môi trường khí) có thể cần thiết.

Ngoài các xét nghiệm đặc biệt, cần thực hiện như sau:

  • Công thức máu toàn bộ với sự khác biệt
  • Tốc độ máu lắng (ESR):
  • Các xét nghiệm về gan
  • Nuôi cấy máu liên tục (tốt nhất là trước khi điều trị kháng sinh)
  • Xét nghiệm kháng thể HIV, xét nghiệm nồng độ RNA, và xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase
  • Test da tuberculin hoặc xét nghiệm phát hiện giải phóng interferon-gamma

Ngay cả khi được thực hiện sớm hơn, các xét nghiệm này có thể gợi ý một xu hướng hữu ích.

Tổng phân tích nước tiểu, nuôi cấy nước tiểu và chụp X-quang ngực, thường đã được thực hiện, nên lặp lại nếu có bất thường.

Nuôi cấy bất kỳ dịch hoặc mô nếu bất thường (ví dụ, đối với vi khuẩn, vi khuẩn, nấm, vi rút hoặc vi khuẩn khó mọc đặc biệt). Các xét nghiệm đặc hiệu, chẳng hạn như phản ứng chuỗi polymerase và nồng độ huyết thanh học (giai đoạn cấp tính và hồi phục), rất hữu ích khi có nghi ngờ lâm sàng, không thực hiện được khi quản lý ngắn hạn.

Các xét nghiệm huyết thanh học, như kháng thể kháng nhân (ANA) và yếu tố dạng thấp (RF), được thực hiện để sàng lọc các rối loạn thấp khớp.

Chẩn đoán hình ảnh được định hướng bởi các triệu chứng và dấu hiệu. Thông thường, những vùng có triệu chứng cần được chẩn đoán hình ảnh - ví dụ như ở bệnh nhân bị đau lưng nên chụp MRI cột sống (để kiểm tra nhiễm trùng hoặc khối u); ở bệnh nhân đau bụng nên chụp CT vùng bụng. Tuy nhiên, CT của ngực, bụng và xương chậu nên được xem xét để kiểm tra bệnh lý hạch và áp xe sâu, ngay cả khi bệnh nhân không có triệu chứng hoặc dấu hiệu cục bộ.

Nếu cấy máu dương tính hoặc có tiếng thổi tại tim hoặc các dấu hiệu ngoại vi cho thấy viêm nội tâm mạc, cần làm siêu âm tim.

Nhìn chung, CT rất hữu ích cho việc mô tả các bất thường tại bụng, khung chậu hoặc ngực.

MRI nhạy cảm hơn so với CT để phát hiện ra hầu hết các nguyên nhân của sốt không rõ nguyên nhân liên quan đến hệ thần kinh trung ương (CNS) và nên được thực hiện nếu một nguyên nhân về hệ thần kinh trung ương đang được xem xét.

Hình ảnh tĩnh mạch đôi có thể hữu ích để xác định trường hợp huyết khối tĩnh mạch sâu.

Chụp cắt lớp phát xạ Positron (PET) cũng có thể hữu ích trong việc phát hiện tiêu điểm của cơn sốt. Chụp PET cho thấy những khu vực có hoạt động trao đổi chất cao là những khu vực bị viêm và nhiễm trùng.

Sinh thiết có thể cần thiết nếu có bất thường ở mô có thể sinh thiết (ví dụ như gan, tủy xương, da, màng phổi, hạch bạch huyết, ruột, cơ). Mẫu xét nghiệm sinh thiết phải được đánh giá bằng việc kiểm tra mô học và nuôi cấy vi khuẩn, nấm, virut và mycobacteria hoặc được gửi đến các xét nghiệm chẩn đoán phân tử (phản ứng chuỗi polymerase). Sinh thiết cơ hoặc sinh thiết da phát ban có thể khẳng định viêm mạch. Sinh thiết động mạch thái dương hai bên có thể xác nhận viêm tủy tế bào khổng lồ ở bệnh nhân cao tuổi có tăng máu lắng không giải thích được.

  • 1. Fisher RE, Drews AL, Palmer EL: Lack of clinical utility of labeled white blood cell scintigraphy in patients with fever of unknown origin. Open Forum Infect Dis 9(3):ofac015, 2022. doi: 10.1093/ofid/ofac015

Điều trị FUO tập trung vào những rối loạn là nguyên nhân. Thuốc hạ sốt nên được sử dụng một cách thận trọng, xem xét thời gian sốt.

Nguyên nhân của sốt không rõ nguyên nhân ở người cao tuổi thường tương tự như trong quần thể chung, nhưng các rối loạn mô liên kết được xác định thường xuyên hơn. Các nguyên nhân phổ biến nhất là

  • Sốt không rõ nguyên nhân cổ điển là nhiệt độ cơ thể ≥ 38°C đo tại trực tràng trong > 3 tuần không có nguyên do xác định sau 3 ngày điều trị tại bệnh viện hoặc ≥ 3 lần khám ngoại trú.
  • Các nguyên nhân đã được xác định có thể được phân loại là bệnh truyền nhiễm, mô liên kết, ung thư hoặc bệnh khác.

Đánh giá nên dựa trên tổng hợp lịch sử và khám lâm sàng, đặc biệt là xem xét các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân có thể dựa trên từng hoàn cảnh riêng lẻ.